(Dân trí) – Phút chia tay trước chuyến giao tài liệu tình báo cuối cùng, ông Nguyễn Văn Thương dặn vợ lo cho con trai rồi lặng lẽ rời nhà. Không ngờ đó là lần gặp cuối trước quãng đời ròng rã biệt tin.
Chiều 10/2/1969, khi mặt trời dần khuất bóng, Thiếu tá Nguyễn Văn Thương sa vào tay địch trong chuyến giao liên cuối cùng.
Ba ngày trước, ông mới ghé về nhà thăm vợ con. Đơn vị gọi ông về căn cứ R (căn cứ Trung ương Cục miền Nam) để chuẩn bị ra miền Bắc học Trường Nguyễn Ái Quốc. Sau nhiều năm hoạt động giao liên trong mạng lưới tình báo miền Nam, đó là lần hiếm hoi ông Nguyễn Văn Thương chuẩn bị rời chiến trường để ra miền Bắc học tập.
Nhìn đứa con trai mới 3 tuổi còn xa lạ với cha vì những năm tháng ông biền biệt hoạt động bí mật, ông Thương dặn dò vợ: “Chuyến này có lẽ anh đi lâu. Em ở nhà ráng lo cho con, bằng mọi cách cũng phải cho nó được đi học…”.
Khi ấy, vợ chồng ông Thương đều không thể ngờ đó là lần gặp cuối cùng trước quãng thời gian biệt tin kéo dài nhiều năm trời. Chỉ ít ngày sau, người chiến sĩ tình báo rơi vào tay địch, bị cuốn vào cuộc đấu trí căng thẳng với CIA và chịu đòn tra tấn cưa chân khốc liệt.
Người bạn đời của Thiếu tá Nguyễn Văn Thương cũng bước vào quãng thời gian chờ đợi, đi tìm tung tích chồng, có khi tuyệt vọng suốt những năm tháng bom đạn mịt mùng.
Đám cưới bí mật của người chiến sĩ tình báo
Trong căn nhà ở phường Bình Lợi Trung (TPHCM), bà Trần Thị Em (85 tuổi) chậm rãi lật giở cuốn album đã sờn gáy.
Những tấm ảnh nằm lặng lẽ, gợi nhớ về người bạn đời của bà, người đã đi qua chiến tranh với thân thể không còn nguyên vẹn – Thiếu tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Nguyễn Văn Thương (còn gọi Hai Thương).
Ngược dòng thời gian, bà kể về vùng Phú Hòa Đông (Củ Chi) một thời ngổn ngang khói lửa.
Năm 1962, chế độ cũ càn quét ác liệt, hòng dập tắt cuộc đấu tranh của nhân dân. Trong những ngày chiến tranh căng như dây đàn, đồng chí Nguyễn Văn Thương (chiến sĩ giao liên tình báo thuộc Phòng Tình báo Bộ Tham mưu B2) thường ghé căn nhà của cụ Hai Kiều nằm sâu trong xóm nhỏ để xin bát nước, chén cơm mỗi lần đi công tác ngang qua.
Má Hai Kiều là vợ liệt sĩ, một mình nuôi đàn con giữa vùng chiến sự. Thấy chàng trai mồ côi cha mẹ từ nhỏ, tính tình hiền lành, ít nói mà lễ phép, bà thương như con ruột. Những bữa cơm thời chiến chỉ có khoai mì, rau rừng hay chén cơm độn nhưng lúc nào bà cũng để cho Hai Thương một phần.
Tiếp xúc lâu ngày, Hai Thương để ý con gái của má Hai Kiều, tên là Trần Thị Em (còn gọi là Hai Em). Cô gái Củ Chi tháo vát, ít nói, có đôi mắt dịu hiền nhưng cứng cỏi của người lớn lên giữa chiến tranh, dần chiếm trọn tâm trí người chiến sĩ giao liên tình báo.
Ông Thương về trình bày với cấp trên, sau đó tổ chức của ông cũng âm thầm điều tra lý lịch Hai Em, biết được bà Em xuất thân trong gia đình có truyền thống cách mạng. Cha bà hy sinh từ thời kháng chiến chống Pháp, mẹ bà – má Hai Kiều – một mình nuôi 7 người con giữa chiến tranh. Cũng như nhiều thanh niên tại vùng đất đỏ, bà Em góp sức tham gia cách mạng từ sớm, làm giao thông trong hệ địch vận (bộ phận tuyên truyền, vận động, giác ngộ, lôi kéo phe địch bỏ hàng ngũ).
Về phía “đàng gái”, má Hai Kiều và tổ chức tại địa phương cũng dò hỏi thông tin của ông Thương. Gia đình bà Em biết được ông Thương làm cách mạng từ năm 12 tuổi, cha mẹ đã hy sinh, hiện thoát ly gia đình ở cùng đơn vị. Công việc của ông Thương cụ thể ra sao, hoạt động trong tổ chức nào, không ai biết rõ.
“Thời đó công việc của nhau là bí mật, ai làm việc người nấy, không cần tìm hiểu sâu. Tôi chỉ biết ông Thương làm cách mạng là đủ rồi. Má tôi tư tưởng rất vững vàng, luôn nhắc nhở các con phải giữ truyền thống, gia phong theo cách mạng của gia đình.
Con trai lớn lên đi bộ đội, con gái cũng không cho đứa nào lấy chồng phe giặc. Dù gian khổ cách mấy cũng phải giữ tinh thần yêu nước. Ở quê tôi, lính bên địch thường chọc ghẹo các chị dân quân du kích xinh đẹp, má tôi thấy vậy cấm tiệt. Đứa nào trái ý thì tự lo cuộc đời”, bà kể.
Ở tuổi 85, bà Em vẫn còn minh mẫn và nhớ nhiều kỷ niệm về ông Hai Thương (Ảnh: Bảo Quyên).
Tình cảm của Hai Thương và Hai Em lớn dần giữa những năm tháng khói lửa bằng sự chân thành, mộc mạc. Bà Em kín đáo, ít nói, mọi tình cảm đều nằm trong ánh mắt.
Giữa chiến tranh, chuyện cưới xin của một chiến sĩ tình báo và cô giao thông viên hệ địch vận không dễ dàng. Cả hai cùng hoạt động bí mật nhưng thuộc hai hệ thống khác nhau. Nếu một ngày, một trong hai người sa vào tay địch, nguy cơ đổ vỡ sẽ lan sang cả hai đường dây.
Bà Em nhớ mãi khoảng thời gian ông Thương buồn bã. Người đàn ông từ nhỏ đã mất mẹ, lớn lên giữa chiến tranh, nay gặp được người thương lại đứng trước nguy cơ không thể thành vợ chồng.
Rồi một ngày, ông tìm gặp bà, nói câu tỏ tình mộc mạc đến vụng về: “Cô Hai, cô có thương tôi thì cô ừ một tiếng”. Lúc đó, bà Em chỉ biết đáp khẽ: “Em… ưng”.
Được chi ủy 2 bên đồng ý, đám cưới của ông Thương và bà Em sau đó diễn ra lặng lẽ, mượn cớ trùng ngày giỗ trong nhà để che mắt xóm giềng và tai mắt địch. Tổ chức ông Thương góp tiền mua tặng cô dâu đôi bông tai. Còn bà Em bán con heo trong nhà để đánh cặp nhẫn cưới.
Trong ngày cưới, cụ Hai Kiều đứng trước bàn thờ người chồng đã khuất, chắp tay khấn: “Kể từ nay, tôi nhận Thương làm con rể trong gia đình. Vì cách mạng không thể tổ chức cưới linh đình cho con được, ông thông cảm cho má con tôi”.
Một năm sau, Hai Em cấn bầu. Để tránh tai mắt địch và sự dò xét của xóm làng, má Hai Kiều phải dựng nên một câu chuyện khác. Bà bảo con gái mời một người lính ngụy đến nhà uống nước để hàng xóm nhìn thấy, rồi sau đó cố tình la mắng om sòm, giả như con mình làm chuyện dại dột.
“Chiến tranh mà, chúng tôi không thể cưới hỏi công khai được”, bà Em kể. Vì hoàn cảnh tréo ngoe, người con trai đầu lòng của Nguyễn Văn Thương phải mang họ mẹ, được đặt tên là Nguyễn Thanh Liêm.
Phút ngã quỵ khi thấy chồng mất một nửa thân thể
Giữa thời chiến tranh, người chiến sĩ hiếm khi được ở cạnh gia đình lâu dài. Ông Nguyễn Văn Thương nay đây mai đó, liên tục đi công tác, hoạt động bí mật, chỉ thỉnh thoảng mới ghé thăm nhà trong chốc lát. Bà Hai Em cũng vậy.
Công việc ở hệ địch vận khiến bà thường xuyên xa nhà, phải gửi con cho má Hai Kiều chăm sóc để tiếp tục hoạt động.
Nhà bà Em nằm ở vùng ven sông Sài Gòn. Đơn vị của ông Thương mỗi lần đi công tác ngang qua thường đóng quân phía bên kia sông, tại khu Bến Cát. Mỗi khi có điều kiện thuận lợi, ông lại tìm cách về thăm vợ. Có hôm ông đi ghe, quá giang người dân qua sông. Nhưng cũng nhiều lần không có xuồng đò, ông tự bơi qua một mình giữa đêm tối.
Những cuộc gặp của hai vợ chồng luôn ngắn ngủi. Ông Thương chỉ ghé thăm vợ chốc lát, đến khuya lại lặng lẽ ra mé sông quay về đơn vị.
Hàng chục năm trôi qua, nhưng bà Em vẫn nhớ mãi hình ảnh những đêm lạnh buốt, ông Thương cởi bộ đồ bà ba, chỉ mặc chiếc quần đùi rồi cẩn thận nhét khẩu súng ngắn cùng quả lựu đạn vào chiếc nón lá để khỏi ướt trước khi xuống nước.
Vẫy chào vợ, ông bơi qua sông. Qua được sông, ông Thương còn phải men theo cánh đồng tối om, đi bộ một quãng xa mới trở lại nơi đơn vị đóng quân. Những lần đi về lặng lẽ như thế kéo dài suốt những năm tháng chiến tranh.
Tháng 2/1969, ông Thương bị địch bắt trong một chuyến giao tài liệu mật. Từ đó, cuộc đời bà Hai Em bước sang những tháng ngày chờ đợi mịt mù. Bà vẫn giữ liên lạc với phía đơn vị của chồng, mong ngóng tin tức từng tháng.
Một thời gian sau, tổ chức cử một nữ giao liên tìm đến báo tin dữ: Ông Thương đã sa vào tay địch và bị thương nặng. Nhưng không ai biết ông bị giam ở đâu, sống chết ra sao.
Tin tức ngắn ngủi ấy khiến những tháng ngày chờ đợi sau đó của bà Hai Em càng thêm quặn thắt. Bà âm thầm dò hỏi tin tức từ nhiều nguồn, lần theo dấu vết qua các nhà tù nhưng không tìm ra manh mối.
Nhiều đêm bà ôm cậu con trai khóc thầm, thương con, thương mình. Đứa con trai đầu lòng khi ấy mới vài tuổi, chỉ gặp cha vài lần, lớn lên thiếu vắng hình bóng cha. Vì hoàn cảnh hoạt động bí mật, cậu bé phải mang họ mẹ, chịu tiếng “con không cha” giữa xóm làng mà chỉ có gia đình và tổ chức hiểu rõ nguyên do.
Một ngày nọ, khi ông Thương bị chuyển tới Trại giam Hố Nai, có người quen lên thăm người thân tình cờ nhận ra ông, biết được lý lịch giả Nguyễn Trường Hân của ông, bí mật báo tin về cho má Hai Kiều và tổ chức.
Cụ Hai Kiều vội đi xin giấy thăm nuôi, khai rằng cụ đến thăm người cháu để hợp thức hóa việc cho Hai Em vào trại giam. Bà Em dẫn theo con trai, đi cùng một giao liên của đơn vị ông Thương, lặn lội quãng đường gần 40km, dò hỏi suốt nhiều ngày mới tới được trại giam.
Những năm ấy, cuộc sống thiếu thốn đủ bề, quen ăn cơm độn khoai, vậy mà trước chuyến đi, bà Em vẫn dành dụm mua cho chồng một ổ bánh mì và hộp pho mát. Bà bảo con trai cắn thật rõ dấu răng vào miếng bánh và miếng pho mát để gửi cho cha. “Ba thấy dấu răng của con, ba sẽ mừng lắm”, bà dỗ dành con.
Khu thăm nuôi hôm ấy đông nghẹt người. Mười hàng kẽm gai dựng chắn ở giữa, một bên là thân nhân, bên kia là tù nhân, cách nhau mười mấy mét. Tiếng gọi, tiếng khóc vang lên hỗn độn. Ai cũng cố nhón chân, vươn người qua hàng rào để tìm gương mặt người thân giữa biển người chen chúc.
Ở bên trong nhà tù, ông Nguyễn Văn Thương vội lao theo dòng người. Ông được báo hôm nay có người thân lên thăm, lòng ngập tràn hy vọng gặp lại vợ con, má Hai Kiều. Nhưng lúc này ông không còn đôi chân để chen lên, phải dùng hai tay chống xuống đất, cố nhích từng chút một qua những hàng chân dày đặc.
Ông Hai Thương căng tai lắng nghe, lấy hết sức gọi lớn: “Hai Em ơi! Hai Em ơi! Má Hai Kiều ơi!”. Tiếng gọi khản đặc của ông chìm trong khoảng sân ồn ào. Không ai để ý đến người tù cụt cả hai chân đang cố ngoi lên tìm vợ con. Người chiến sĩ từng đi qua bao trận sinh tử thấy lòng mình run lên vì nỗi khát khao được nhìn thấy người thân sau bao ngày mong ngóng.
Một tù nhân đứng gần Nguyễn Văn Thương thấy ông tội nghiệp quá, liền lặng lẽ ngồi xuống, nói: “Anh để tôi cõng lên”. Ông Hai Thương vịn lên lưng bạn tù, tay bám chặt hàng kẽm gai rồi cố ngước nhìn sang phía bên kia. Và rồi, ông thấy bà Hai Em đang dắt con trai len lỏi tìm kiếm.
“Tôi đứng ngoài này kiễng chân tìm hoài không thấy ông ấy đâu. Rồi tôi thấy một người tù cõng ông trên lưng. Ông ấy vẫy tay, gượng cười, nói “Anh đây nè”, rồi chỉ vào hai chân. Đứng ngoài thấy đôi chân ông ấy không còn, tôi vỡ òa, không đứng vững, ngã bẹp xuống đất…”, bà Em xúc động nhớ lại.
Cuộc gặp chỉ kéo dài ít phút. Nhưng với người tù vừa đi qua những tháng ngày bị tra tấn và cô độc, được nhìn thấy vợ con còn sống cũng đủ trở thành nguồn động viên lớn lao.
Ông Thương nhận gói quà nhỏ vợ gửi vào. Vừa chạm tay tới ổ bánh mì và miếng pho mát, ông nhận ra những dấu răng nhỏ xíu in trên đó. Dấu răng của đứa con trai mà ông chưa từng có một ngày được làm cha đúng nghĩa. Ông không nỡ ăn ngay.
Đến khi miếng phô mát bắt đầu chảy mềm, ông mới đưa lên miệng ngậm thật lâu, như muốn giữ lại chút hơi ấm của vợ con sau cả năm trời xa cách. Suốt thời gian bị giam tại Hố Nai, đây là lần duy nhất ông Thương được thăm nuôi. Hai mươi tháng tại đây, thì 18 tháng ông bị biệt giam, chịu những cực hình tàn khốc.
Còn bà Hai Em, trên đường dắt con trở về, lòng bà ngổn ngang trăm mối. Bà chỉ kịp nhìn chồng từ xa, thấy thân hình ông tiều tụy như đứa trẻ và đôi chân đã không còn nguyên vẹn. Nhưng giữa tất cả đau đớn ấy, điều khiến bà yên lòng nhất là ông vẫn còn sống.
Một tháng sau, bà Hai Em lại lặn lội trở về trại giam Trại giam Hố Nai với hy vọng được gặp chồng thêm lần nữa. Nhưng lần này, bà chỉ nhận được một câu trả lời ngắn gọn: Tù nhân Nguyễn Trường Hân đã bị chuyển sang nơi khác. Không ai nói ông bị đưa đi đâu. Từ đó, bà Em không còn biết rõ tung tích của ông Thương, tiếp tục sống trong mòn mỏi và thấp thỏm. “Có lúc tuyệt vọng, tôi sợ ông ấy đã hy sinh trong tù…”, bà Em nói.
“Chiến tranh đi qua, lòng người ai biết có thay đổi?”
Ngày 14/3/1973, bãi đất trống ở Lộc Ninh (Bình Phước cũ) rực lên không khí chưa từng có sau khi Hiệp định Paris được ký kết. Từng chuyến bay chở tù binh từ Nhà tù Phú Quốc, Trại giam Hố Nai, Nhà tù Côn Đảo… lần lượt hạ cánh xuống vùng giải phóng.
Những người tù bước xuống máy bay trong thân thể gầy guộc, thương tích đầy mình, có người không còn đi nổi, có người chỉ còn da bọc xương.
Nhưng giữa khoảng sân ngập cờ giải phóng và tiếng hát vang dội hôm ấy, ai cũng như được trở về từ cõi chết.
Đồng chí Nguyễn Văn Thương cũng có mặt trong đoàn người. Sau nhiều năm bị biệt giam, tra tấn và giam tù, ông trở về với đôi chân đã mất. Hai tay cầm đôi ghế gỗ làm phương tiện di chuyển, ông cố bò giữa biển người náo động để tìm đồng đội và tổ chức.
Giữa lúc hỗn loạn của ngày trao trả, từ phía ngoài hàng người, Đại tá Nguyễn Văn Tàu (tức Tư Cang, Cụm trưởng Cụm tình báo H.63) bất ngờ nhận ra dáng người quen thuộc. Ông lao tới ôm chầm lấy Nguyễn Văn Thương. “Thằng Thương kìa! Đúng thằng Thương rồi!”, ông Tư Cang gọi, không cầm được nước mắt.
Còn ông Nguyễn Văn Thương, sau bao năm đối mặt với đòn roi và cô độc, lần đầu bật khóc thành tiếng giữa vòng tay đồng đội: “Em vẫn còn sống đây thôi, anh Tư ơi…”.
Gặp nhau mừng mừng tủi tủi, ông Tư Cang xót xa khi nhìn vào đôi chân từng bền bỉ giao bao chuyến tài liệu, từng vào sinh ra tử với anh em bao lần. Chạy xe Honda chở ông Hai Thương đến trại an dưỡng, ông Tư Cang lòng đau như đứt từng khúc.
Trước đó vài tuần, tổ chức cũng báo tin cho bà Hai Em về cuộc trao trả tù binh sắp sửa diễn ra. “Nhiều năm trôi qua, người ta cũng sợ tôi lúc đó không còn chờ chồng nữa… Không ai hỏi thẳng, chỉ nhẹ nhàng dò ý xem tôi có muốn đi đón ông hay không. Tất nhiên, tôi không do dự, gật đầu liền”, bà Em nhớ lại.
Rồi người phụ nữ vùng đất thép cùng một nữ giao liên lặng lẽ đi bộ lên Lộc Ninh để chờ ngày gặp lại chồng sau những năm dài tưởng đã mất nhau giữa chiến tranh. Tại vùng giải phóng, Đại tá Nguyễn Văn Tàu trực tiếp ra đón bà Hai Em rồi đưa lên khu an dưỡng cách nơi trao trả tù binh khoảng 5km.
Giữa tiếng reo hò, nước mắt và những cái ôm nghẹn ngào của chồng trong vòng tay đồng đội, bà Em chỉ đứng nhìn rồi lặng lẽ khóc. Bà khóc vì mừng ông còn sống trở về sau những năm dài bặt tin, khóc vì thấy người đàn ông năm xưa giờ chỉ còn lại nửa thân thể, khóc vì cha con cuối cùng cũng được gặp nhau sau những tháng ngày ly tán.
Nhưng rồi bà lại cười khi thấy ông Thương vẫn giữ được vẻ lạc quan và ánh mắt bình thản như ngày nào.
Trong hồi ký, ông Nguyễn Văn Thương chia sẻ rằng bà Hai Em là người “sâu sắc, ít nói, nghĩ nhiều”. Phút đoàn tụ, giữa họ dường như không cần quá nhiều lời bày tỏ. Hai người chỉ nhìn nhau mà hiểu hết những mất mát, chờ đợi và yêu thương đã đi qua suốt những năm chiến tranh.
30/4/1975 – ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước – ông Hai Thương lặng người trong niềm xúc động nghẹn ngào. Sau tất cả năm tháng chiến đấu, tù đày và tra tấn, điều ông chờ đợi cuối cùng cũng đến. Với người chiến sĩ tình báo ấy, việc mất đi đôi chân để đóng góp cho sự nghiệp chung của dân tộc là hoàn toàn xứng đáng.
Tháng 6/1975, ông Thương từ khu an dưỡng ở miền Bắc được về Sài Gòn thăm gia đình vài ngày. Khi ấy, bà Hai Em đã chuyển lên sống ở khu vực chợ Bà Chiểu. Trước khi để ông Thương về sống cùng gia đình, tổ chức tìm gặp bà Em để hỏi liệu bà có đồng ý tiếp tục chăm sóc và gắn bó với người chồng thương binh nặng, đã mất 2 chân hay không.
Nhớ lại chuyện cũ, bà Em rưng rưng: “Chiến tranh mà, thời gian đi qua, lòng người ai biết có thay đổi không. Nên tổ chức ông ấy hỏi vậy cũng phải. Nhưng cuộc sống thế nào tôi đều chấp nhận hết”.
Ông Thương về nhà sum họp gia đình năm 39 tuổi, bị thương tật, tiền phụ cấp chế độ cũng không được bao nhiêu. Nhưng khổ đến mấy, bà Em vẫn chịu được. “Chiến tranh sống nay chết mai. Còn hòa bình, vợ chồng bên nhau, con cái sum họp ba mẹ, thì với tôi, khổ cực, đói khát đến mấy cũng hạnh phúc hơn thời bom đạn”, bà nói.
Trên tất cả là tình yêu, yêu bạn đời, yêu đồng đội
Năm 1978 trở thành dấu mốc đặc biệt trong cuộc đời vợ chồng ông Hai Thương. Gia đình ông đón thêm cô con gái nhỏ – niềm hạnh phúc mà ông từng nghĩ có lẽ mình sẽ không bao giờ còn có được. Cũng trong năm ấy, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân cho ông Nguyễn Văn Thương.
Trở về sau chiến tranh, ông Thương chưa bao giờ muốn mình trở thành gánh nặng của vợ con. Người thương binh mất cả hai chân tập làm mọi việc bằng đôi tay và nghị lực của chính mình: Nuôi heo, quán xuyến việc nhà, phụ vợ chăm con… Ông vẫn đi bằng đôi chân không còn nguyên vẹn, bằng đôi tay, bằng nạng, bằng xe lăn, xe 3 bánh… Ông đi khắp nơi làm việc, thăm hỏi anh em bạn bè…
Thế nhưng chiến tranh chưa bao giờ thực sự rời khỏi cơ thể ông. Những lần trái gió trở trời, vết thương năm xưa lại hành hạ, phần đầu xương ở hai chân cụt thường xuyên đau nhức dữ dội như có luồng điện giật. Có những lúc cơn đau giật liên hồi khiến ông mất ngủ, người co quắp lại. Bác sĩ cho uống nhiều loại thuốc giảm đau nhưng chỉ giúp dịu đi phần nào rồi mọi thứ lại trở lại như cũ.
Không còn đôi chân, ông phải chống người di chuyển bằng hai chiếc ghế gỗ đặt dưới tay. Có lần đang di chuyển thì ngã nhào, phần đầu xương cụt va mạnh xuống nền đau thắt người. Nhưng suốt nhiều năm sống cạnh chồng, điều bà Hai Em nhớ nhất vẫn là ông hiếm khi than vãn hay để lộ sự bi quan.
“Ông ấy sống lạc quan lắm, lúc nào cũng vui vẻ. Ông chỉ tiếc nuối duy nhất một điều, là lúc con trai đầu lòng còn nhỏ, ông không có điều kiện ở gần để chăm sóc con. Ông ít khi than thở với tôi về mất mát, khổ đau thời tù đày, tra tấn. Những năm tuổi già, ông thường đi diễn thuyết cho học sinh, sinh viên hiểu về lịch sử, về nghị lực cuộc sống.
Lúc nào với ông ấy, cuộc đời này cũng là may mắn. Sau tất cả mất mát của chiến tranh, ông vẫn còn sống để nhìn thấy đất nước thống nhất, gặp lại đồng đội, trở về với vợ con và có thêm 43 năm sum họp trong hòa bình, với ông là “lời” rồi. Bởi vậy nên ông không ân hận điều gì, dù có hy sinh đôi chân để đóng góp cho sự nghiệp của đất nước cũng xứng đáng”, bà Em kể.
Về phía ông Thương, ông đặt hết niềm tin vào người bạn đời. Từ ngày yêu cho đến lúc cưới và sau này, ông luôn tin tưởng bà Hai Em giữ vững lập trường chính trị, lý tưởng vững vàng và niềm tin vào tình cảm của hai người.
Nhưng ông cũng hiểu, vợ mình dù làm cách mạng vẫn là một người phụ nữ bình thường, cũng có những phút yếu lòng, nhớ chồng, nhớ con đến quay quắt. Có lần gặp nhau hiếm hoi giữa chiến tranh, bà từng nói thật với ông: “Nhiều lúc nhớ con, nhớ anh, em muốn bỏ hết mọi việc để về ôm con vào lòng. Nhưng nghĩ tới nhiệm vụ lại ráng cố gắng…”.
Những lời nói ấy nhiều năm sau vẫn trở thành điểm tựa tinh thần cho ông Nguyễn Văn Thương giữa vòng vây của CIA. Giữa căn biệt thự xa hoa và những lời dụ dỗ ngọt ngào của địch, giữa những cơn đau như chết đi sống lại vì bị cưa chân, ông lại nhớ về ánh mắt của người vợ trẻ âm thầm chờ đợi mình trong năm tháng chiến tranh.
“Đôi mắt hiền thương yêu chứa cả một đại dương tình cảm”, ông viết về vợ trong hồi ký. Với ông Nguyễn Văn Thương, đó là ánh nhìn khiến ông không thể cho phép mình gục ngã, bởi phía sau người chiến sĩ tình báo ấy vẫn còn người vợ và đứa con đang chờ ông trở về.
Nhìn lại cuộc đời không khác gì một cuốn phim điện ảnh đầy khốc liệt của vợ chồng ông Hai Thương, phóng viên hỏi bà Trần Thị Em điều gì đã giúp bà có nghị lực để đi qua tất cả năm tháng ấy.
“Bom đạn, tù đày, tra tấn, xa cách, chúng tôi vượt qua hết. Vì tình yêu là trên hết. Tôi yêu người bạn đời, cũng là người đồng đội, đồng chí của tôi”, người phụ nữ 85 tuổi nói, đôi mắt hoe đỏ.
Ông Nguyễn Văn Thương qua đời năm 2018. Nhưng với bà Em, người bạn đời dường như chưa bao giờ rời xa.
“Ông mất nhiều năm rồi, mà tôi chưa ngày nào không nhớ ông. Tôi tin ở đâu đó, ông vẫn thương vợ con, vẫn phù hộ cho con cháu bình an, rồi phù hộ cho tôi sống tới trăm tuổi nữa”, bà cười.
Chia sẻ với phóng viên Dân trí, Đại tá Tư Cang nhớ lại cuộc trao trả tù binh năm 1973, khi ông trực tiếp đi đón Thiếu tá Nguyễn Văn Thương trở về trại an dưỡng. Sau đó không lâu, tại cuộc họp Đại hội Đảng của đơn vị, ông Tư Cang dẫn ông Hai Thương lên bục để mọi người chào đón.
“Nhiều cô giao thông viên ngồi hàng đầu thấy ông Thương mất 2 chân liền ngất xỉu. Cả đơn vị ai cũng thương người chiến sĩ kiên trung, nghị lực ấy. Những năm tuổi già, ông Thương thường đi xe 3 bánh đến nhà tôi chơi. Chúng tôi cùng nhau tham gia nhiều buổi nói chuyện cùng học sinh, sinh viên ở các trường học.
Với tôi, ông Hai Thương là người dũng cảm, quật cường, tuyệt đối trung thành. Khi biết ông ấy bị bắt, tôi tin Thương thà chết chứ không bao giờ chịu khai anh em hay cơ sở của mình”, ông Tư Cang nói.
Thiếu tá Nguyễn Văn Thương (1938-2018) được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân năm 1978. Suốt sự nghiệp cách mạng, ông được trao Huân chương Độc lập hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Huân chương Chiến công hạng Ba; Huân chương Quân công hạng Ba; Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng.
Ông mất ngày 13/8/2018, hưởng thọ 80 tuổi.
Bà Trần Thị Em cũng được trao tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng năm 2025.
>>>> Xem thêm: Dòng nhật ký đặc biệt trong ngày 30/4/1975 của “vua vũ khí” Trần Đại Nghĩa
